tập truyện quê mẹ

Tập truyện Những chuyện kể ngày thứ hai là tiêu biểu nhất về văn phong của Alphonse Daudet. Ông mất năm 1897 tại Paris. Mẹ ông cũng là con của một nhà nho, thuộc nhiều ca dao dân ca Huế và rất thương con. Cha mẹ cùng quê hương Huế đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn thơ A. Bố và mẹ B, Chú Tiến Lê C. Kiều Phương D, Kiều Phương và anh trai. Câu 4: Vượt thác của Võ Quảng trích từ chương XI của truyện Quê Nội viết về cuộc sống của một làng quê ven sông_____ A. Hồng B. Cửu Long C. Thái Bình D. Thu Bồn. Tiểu thuyết "Quê nội", truyện đồng thoại, chân dung "Võ Quảng - một đời thơ văn"… nằm trong bộ sách nhân 100 năm sinh nhật ông. Bộ ấn phẩm gồm năm cuốn, do Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành. Tiểu thuyết Quê nội (gồm hai truyện Quê nội, Tảng sáng) là tác phẩm mang […] 309. "Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, tập VI Truyện quê, sau lũy tre, con trâu, đứa con, bốc đồng, chơi giữua mùa trăng Trần Tiêu, Đỗ Đức Thu, Hàn Mạc Tử Nguyễn Hoành Khung, Phong Hà, Nguyễn Cù, Tần Hồng Nguyên sưu tầm và" Một ngày cuối năm 1973 tôi đến trụ sở NXB Kim Đồng (64 Bà Triệu) chợt thấy nhà văn Bùi Hồng (lúc đó là Phó tổng biên tập NXB Kim Đồng) đang đứng ở cổng trên tay cầm một cuốn sách mới tinh, đó là cuốn Quê nội của nhà văn Võ Quảng. Ngày ấy là một tác giả trẻ (mới có sách in ở Kim Đồng), được một Künstliche Befruchtung Für Singles Im Ausland. QUÊ MẸ Chiều chiều ra đứng cửa sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều. CA DAO Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương-thơ ở làng Mỹ-lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi Yếu-lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm Hương-thơ trong làng. Ngày nào anh cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện. Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng – hay nói cho đúng lương năm – của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc để làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức việc đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết. Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước. Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác. Chiều hôm ấy lúc thoáng thấy bóng chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào tới sân, anh Vận liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi một bên chồng rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên bờ hè nói khẽ – Cây thanh-trà mới đấy mà đã có trái rồi cậu ạ. Anh Vận để con ngồi trên chân, rồi cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp – Thế à. Cây thanh-trà ấy trông dáng khô khan không ngờ lại giống tốt Cô Thảo ghé một bên chồng nói tiếp – Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể cũng nhanh thật. Anh Vận như sực nhớ một việc gì, nhìn vợ hỏi vội – Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh-trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa ? – Rồi, nhưng nó mới được ba tháng. – Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày mấy ? Cô Thảo nhìn chồng mỉm cười – Được vài ông rể quí như cậu thì ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn bàn lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng quên. Anh Vận như nhớ lại được, gật đầu lia lịa – Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông vào tiết Trung-thu phải không mợ? – Không phải, ngày rằm tháng tám. Anh Vận lớn tiếng cười vang làm cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ ngác. – Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có khác là người hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người… ít hay chữ thì gọi rằm tháng tám…. Cô Thảo nhìn chồng cười mỉm – Người hay chữ với lại người ít hay chữ ! Thì cậu cứ nói người dốt với người thông có được không. Thật ra thì anh Vận cũng có ý nói người hay chữ với người dốt, nhưng lai sợ làm mếch lòng vợ. Anh Vận nhìn ra trước cổng yên lặng. Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn gà con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn rồi lại trở ra ngồi chỗ cũ. Mảnh trăng trong lúc ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dịu dàng qua hàng tre trước cổng. Trông thấy ánh trăng, anh Vận quay lại hỏi vợ – Hôm nav là mấy rồi mà trăng sáng quá? – Ngày mười ba. Anh Vận thả hai chân xuống chõng nhìn vợ ngơ ngác – Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng. Cô Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp khẽ – Phải. Anh Vận đưa tay lên gãi đầu – Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ đã gần đến mà cũng quên. Cô Thảo ngồi yên lặng không đáp. Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc chồng ngày giỗ ở nhà mình là một việc chướng lắm. Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì hơn. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để nhắc xa xuôi cho chồng nhớ. Tối hôm ấy, cơm nước xong xuôi, anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ. Bà Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con đứng tựa bên cột bảo khẽ – Ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi. – Thưa mẹ, giỗ ông con. – Thế à. Nghĩ một lát bà ta nói tiếp – Mai mợ chắc phải về làng sớm. Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra ngoài vườn cắt một buồng chuối mật – buồng chuối gần bên cái giếng ấy – để về giỗ ông. Năm nay tôi bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ trời năm khác. Nói xong bà Lại lách bàn tay vào túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo. – Thôi cho mợ một hào để đi đò. Và nhớ chớ để em ngồi nhìn xuống mặt nước. Cô Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm. Trước khi đi ngủ anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa. Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sự nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ. Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ-lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ. Qua những con đường mòn chạy nắp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất. Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết. Đi chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước. Qua khỏi đầu làng Duyên-hải thì cô Thảo gặp cô Đài, người bạn cùng làng thường chơi với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh mua bên chợ Kỳ-lam. Cô Đài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt. Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo lên om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyên khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tai vàng của cô. Đến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết. Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày gỉờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng cỏ ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết. Sung sướng nhất là cô gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài. Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói – Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua. Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu mới khẽ đáp – Dạ, nhà con mắc việc quan. Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp – Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan. Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má. Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp áo quần mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp áo quần ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm. Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở. Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-lão. Nhưng làng Quận-lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm. —>Bến nứa Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Thanh Tịnh nổi tiếng với Quê mẹ, tập truyện ngắn mang phong cách riêng gần gũi với Thạch Lam, Hồ Dzếnh trong những cảm nhận tinh tế và đượm buồn về cuộc sống của một lớp người nghèo nơi một làng quê miền Trung, xứ Huế, có tên là Mỹ Lý. Làng Mỹ Lý trong văn Thanh tịnh cũng giống như bao làng quê khác của Miền Trung có một dòng sông nhỏ chảy qua; một cánh đồng làng rộn vui vào mùa gặt hái khi trai bạn đến; những đêm trăng cho người lớn trò chuyện và trẻ nô đùa; cái quạnh quẽ của một bến đò ngày mưa; một con đường sắt xuyên qua đồng làng để giữa cánh đồng trơ trọ bỗng mọc lên một cái ga xép với tiếng còi vảng trong đêm, với tiếng bánh xe tay lăn trên đường đá đón một chuyến khách khuya… Làng Mỹ Lý với những con người bình dị, chất phác với nếp sống quen thuộc từ lâu đời; những ước mơ và hạnh phúc nhỏ nhoi, đơn sơ gắn với những lo âu muôn thủa của đời người; con gái lấy chồng xa về thăm Quê mẹ; đẻ con so về nhà mẹ; những vui – buồn thoát đến thoát đi trên sông nước – “thuyền về Đại Lược, duyên ngược Kim Long…”; mối tình vừa nhen nhóm bỗng lụi tắt giữa cô gái quê và thầy ký ga phải đổi vùng… Quê mẹ - ấy là những nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm thía về những phôi pha, bất trắc của cuộc đời. Cũng không hiếm những nỗi buồn quặn thắt, như nỗi buồn của ông lão mù cùng đứa cháu kéo những chuyến xe không khác trong Am cu ly xe; hoặc pha chút huyền bí trong cảnh người chồng, người cha hóa hổ vì ngậm ngải quá hạn trong Ngậm ngải tìm trầm. Rất lâu đời và tưởng như cứ vĩnh viễn mãi thế, cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn của những lớp người lao động nghèo khổ. Đọc Quê mẹ để hiểu thêm về con người và cuộc đời trong xã hội cũ, với cái nghèo lưu truyền cùng những bất trắc và bất hạnh luôn luôn gắn với đời người. Nhưng cũng là để lưu lại tình đời và tình người, lưu lại sức chịu đựng và vượt lên những gian nan thử thách, nhờ nó mà con người có thể tồn tại, hơn thế, thỉnh thoảng cũng có được sự an ủi và bù đắp trong những niềm vui đơn sơ, bình dị. Quê mẹ - đó còn là những trang thật trong trẻo và đầy dư vị tuổi thơ, chắc không riêng lứa tuổi tôi mới có thể dễ dàng thuộc lòng, như những trang Tôi đi học “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm miên man của buổi tựu trường”. Những trang vui và ngộ nghĩnh trong tiếng trẻ học bài “Rắn là một loài bò … sát không chân”, ở một tuổi thơ đã biết cách chia sẻ và “can thiệp” vào tình yêu của người lớn trong cái truyện có tên Tình thư. Và tình yêu, trong Bến nứa, Quê bạn, Tình trong câu hát. Bên con đường sắt… những mối tình vừa man mác vừa tha thiết, tất cả đều đượm buồn và không thôi trĩu nặng lòng người, vì hạnh phúc trong đời đối với mọi lớp người nghèo là quá mong manh và xa vời trong mong mỏi và ao ước. Từ hơn nửa thế kỷ qua, Quê mẹ gắn với Thanh Tịnh, như một biểu tượng cụ thể của tình quê hương. Đọc Quê mẹ để hiểu khi người viết có thêm một tình yêu tha thiết với mảnh đất quê với cảnh và người một vùng cụ thể, họ sẽ thổi được một sự sống riêng, tỏa được một hơi ấm riêng, khiến cho những trang viết bỗng dưng có hồn, để trở thành một lưu luyến, khắc khoải cho người đọc thuộc nhiều thế hệ. Quê mẹ của Thanh Tịnh, đó là làng Mỹ Lý, cũng như quê ngoại của Tô Hoài – làng Bưởi ven đô Hà Nội; “quên ngoại” Hồ Dzếnh – một vùng sông nước xứ Thanh; rồi “quê nội” của Võ Quảng – thôn Hòa Phước, một làng quê ven sông Thu Bồn… ấy là biểu tượng của làng quê, là sự sống của tình quê trong hành trình lịch sử. Những “quê mẹ” rồi “quê ngoại” và “quê nội” trong văn xuôi dành cho tuổi thơ nói riêng và người đọc rộng rãi nói chung, những tên riêng khơi gợi hoặc đánh thức bao lưu kuyến về tình quê hương, để từ một quê hương cụ thể mà nâng lên tình đất nước – đó là con đường đi, là chu trình vận hành, là đóng góp cụ thể của văn xuôi hiện đại mà Thanh Tịnh là thuộc số ít người có công khởi động và để lại được dấu ấn theo thời gian cho đến hôm nay. Mong cho mỗi người đọc, trước hết là những bạn đọc nhỏ tuổi có một “quê mẹ” cụ thể, hoặc “quê mẹ” trong tâm tưởng, trong tinh thần để nhớ thương và lưu luyến trong cái thời của cách mạng khoa học – kỹ thuật, của quá trình đô thị hóa đang xóa dần ranh giới nông thôn và thành thị. Giáo sư Phong Lê QUÊ MẸ_ THANH TỊNH Các file đính kèm QUÊ MẸ Tập truyện ngắn -❊ ❖ ❊- Tác giả Thanh Tịnh Nhà xuất bản BÚT VIỆT 1975 Đóng gói nguyenthanh-cuibap **** Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn hôm nay tôi đi học. Tôi đi học Thanh Tịnh ​​ Các file đính kèm Góp thêm bản scan của Đời Nay 1941. So sánh mới thấy bản 1975 in theo bản Đời Nay, còn bản 1995 ở post đầu thì không. ​ Link Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Chia sẻ trang này TÔI ĐI HỌC Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và đầy gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn hôm nay tôi đi học. Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quí và không đi ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa. Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. Dọc đường thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng xệch ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xốc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết. Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi – Mẹ đưa bút thước cho con cầm. Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm – Thôi để mẹ nắm cũng được. Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này chẳc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi. Trước sân trường làng Mỹ-lý dày đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa. Trước đó mấy hôm, lúc đi qua làng Hoà-an bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé lại trường một lần. Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo và sạch sẽ hơn các nhà trong làng. Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ-lý trông vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hoà-ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ. Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ. Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Cảm thấy mình trơ vơ là lúc này. Vì chung quanh là những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. Ông đốc trường Mỹ-lý cho gọi mấy cậu học trò mới đến đứng trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông ta đọc tên từng người tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến lên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ – Thế là các em được vào lớp năm. Các em phải gắng học để thầy mẹ đưọc vui lòng, và để thầy dạy các em được sung sướng. Các em đã nghe chưa. Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có một tiếng dạ ran của phụ huynh đáp lại. Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò trong lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn. Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói – Thôi, các em lên đứng đây sắp hàng để vào lớp học. Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi. Ông đốc tươi cười nhẫn nại chờ chúng tôi. – Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai lại được nghỉ cả ngày nữa, Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều dặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi đi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ đang đón chúng tôi trước cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ. Vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đông làng Lệ-xã, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết. Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên lạm nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao. Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa hay bên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi. Nhưng tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đánh vần đọc Bài viết tập Tôi đi học. —>Bên con đường sắt Pages 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14

tập truyện quê mẹ